huyện cẩm xuyên - tỉnh hà tĩnh

Nghị quyết HĐND

Nghị Quyết Số: 27/2012/NQ-HĐND ngày 30/7/2012 HĐND huyện

10-28-2014

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM XUYÊN

_________________

 

Số: 27/2012/NQ-HĐND

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_______________________________________

 

Cẩm Xuyên, ngày 30  tháng  7  năm 2012

 

NGHỊ QUYẾT

Về phát triển ngành chăn nuôi huyện Cẩm Xuyên
giai đoạn 2012-2015, định  hướng đến năm 2020

 

 

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁ XVIII  - KỲ HỌP THỨ 4

 

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ngày 26/11/2003;

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ngày 03/12/2004;

Căn cứ Quyết định số 4263/2011/QĐ-UBND ngày 30/12/2011 của UBND tỉnh Hà Tĩnh về việc phê duyệt Đề án phát triển ngành chăn nuôi giai đoạn 2011 - 2015, định hướng đến năm 2020;

Sau khi xem xét Tờ trình số 61/TTr-UBND ngày 16/7/2012 của Uỷ ban nhân dân huyện về việc “Phát triển ngành chăn nuôi huyện Cẩm Xuyên giai đoạn 2012-2015 và định hướng đến năm 2020”; nghe báo cáo thẩm tra của Ban Kinh tế Xã hội và ý kiến của các vị đại biểu Hội đồng nhân dân huyện tại kỳ họp,

QUYẾT NGHỊ:

Điều 1. Thông qua Đề án “Phát triển ngành chăn nuôi huyện Cẩm Xuyên giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020” (Có đề án kèm theo).

Điều 2. Giao Uỷ ban nhân dân huyện tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết theo quy định hiện hành.

Giao Thường trực HĐND, các Ban HĐND và qúy vị Đại biểu Hội đồng nhân dân huyện giám sát việc thực hiện Nghị quyết này.

Điều 3. Nghị quyết đã được Hội đồng nhân dân huyện Cẩm Xuyên khoá XVIII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 25/7/2012./.

Nơi nhận:

- TT. HĐND, UBND tỉnh Hà Tĩnh;

- Sở: NN-PTNT, Tư pháp, Trung tâm Công báo tỉnh;

- TT. Huyện ủy, TT. HĐND huyện;

- Chủ tịch, các PCT UBND huyện;

- UBMTTQ và các Đoàn thể huyện;

- Đại biểu HĐND huyện;

- Các phòng, ban, ngành cấp huyện;

- Trạm Thú y, Trạm giống chăn nuôi;

- TT. HĐND, UBND các xã, thị trấn;

- Lưu: VT, NN.

CHỦ TỊCH



 


Đặng Quốc Cương

 

 

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_____________________________________

 

ĐỀ ÁN

PHÁT TRIỂN NGÀNH CHĂN NUÔI  HUYỆN CẨM XUYÊN

GIAI ĐOẠN 2012 - 2015, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020

(Kèm theo Nghị quyết số 27/2012/NQ-HĐND ngày 30/7/2012 của HĐND huyện)

_________________________________________

 

Phần 1. MỞ ĐẦU

 

I. Đặt vấn đề.

Ngày nay trong sản xuất ngành nông nghiệp chăn nuôi ngày càng có vị trí quan trọng, chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện (năm 2011 chiếm 40%), không chỉ cung cấp nguồn thực phẩm chủ yếu cho con người, mà còn cung cấp nguồn sức kéo, phân bón hữu cơ cho nông nghiệp và nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, giải quyết việc làm cho lao động dư thừa và lao động thời vụ nhàn rỗi ở nông thôn, tăng thu nhập, góp phần xoá đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và góp phần ổn định tình hình ở địa phương. Trong thời gian gần đây chăn nuôi đã từng bước phát triển theo hướng chăn nuôi hàng hoá, các trang trại chăn nuôi tập trung ngày càng nhiều và đã bắt đầu hình thành một số mô hình chăn nuôi công nghệ cao, mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt.

Tuy vậy, nhìn chung tốc độ phát triển ngành chăn nuôi của huyện còn chậm, năng suất, chất lượng và giá trị sản lượng sản phẩm còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của huyện; chăn nuôi còn mang tính truyền thống, manh mún nhỏ lẻ như chăn nuôi tận dụng, chăn nuôi hộ gia đình là chủ yếu, đây là nhân tố tạo ra ô nhiễm môi trường trong các khu dân cư; các trang trại chăn nuôi tập trung công nghiệp, bán công nghiệp chưa nhiều, dịch bệnh vẫn thường xẩy ra trên đàn gia súc, gia cầm, ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi của huyện nhà.

Để ngành chăn nuôi tiếp tục phát triển nhanh, bền vững, gắn với quá trình xây dựng nông thôn mới, hình thành vùng chăn nuôi hàng hoá, tập trung an toàn dịch bệnh tách khỏi khu vực dân cư, đảm bảo vệ sinh môi trường, khai thác hiệu quả tiềm năng đất đai và nguồn nhân lực. Quán triệt Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 19/5/2009 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Hà Tĩnh, giai đoạn 2009 - 2015 và định hướng đến năm 2020, Nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện khoá XXX, việc xây dựng Đề án phát triển chăn nuôi giai đoạn 2012 - 2015, định hướng đến năm 2020 là yêu cầu cấp thiết, nhằm đưa ngành chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính.

II. Căn cứ pháp lý xây dựng đề án.

- Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn.

- Quyết định số 10/2008/QĐ-TTg ngày 16/01/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020.

- Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 19/5/2009 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Hà Tĩnh giai đoạn 2009-2015 và định hướng đến năm 2020;

- Chính sách 24/2011/QĐ-UBND ngày 09 tháng 8 năm 2011 của UBND tỉnh Hà Tĩnh về việc ban hành Quy định một số chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp, nông thôn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2011 – 2015.

- Quyết định số 4263/2011/QĐ-UBND về việc phê duyệt Đề án phát triển ngành chăn nuôi Hà Tĩnh giai đoạn 2011 – 2015, định hướng đến năm 2020.

- Quyết định số 2596 /QĐ-UBND về việc phê duyệt Đề án phát triển chăn nuôi lợn trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2011 - 2015, định hướng đến năm 2020.

- Quết định 1303/QĐ-UBND về việc phê duyệt quy hoạch phát triển chăn nuôi và vùng chăn nuôi tập trung tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020.

- Căn cứ chỉ tiêu phát triển kinh tế, xã hội theo Nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện Cẩm Xuyên Lần thứ XXX nhiệm kỳ 2010 - 2015.

 

Phần 2.

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI GIAI ĐOẠN 2007 - 2011

 

I. Thực trạng ngành chăn nuôi thời gian qua.

1. Đối với chăn nuôi trâu, bò:

Tổng đàn trâu bò năm 2011 đạt 20.387 con (Đàn trâu 9.080 con, đàn bò 11.307 con ) giảm 41,4% so với năm 2007 (34.804 con), tuy nhiên nhờ áp dụng các tiến bộ kỷ thuật mới vào chăn nuôi, nhất là chú trọng đến công tác cải tạo đàn nên chất lượng đàn ngày càng tăng, đặc biệt là đối với đàn bò, những năm qua tỉ lệ bò lai Zê bu có 25%-50% máu ngoại ngày càng tăng, tỉ lệ đàn trâu, bò cày kéo có xu hướng giảm do việc cơ giới hoá trong nông nghiệp ngày càng tăng. Tổng đàn tuy có xu hướng giảm nhưng số lượng và sản lượng thịt hơi xuất chuồng ngày càng tăng nhờ quá trình cải tiến chất lượng đàn trâu, bò trong một số năm trở lại đây.

Mặc dù chăn nuôi trâu, bò trong những năm qua đạt được một số kết quả nhất định, tuy nhiên còn bộc lộ một số hạn chế đó là chăn nuôi còn mang nặng tính quảng canh, truyền thống, phát triển tự phát, thiếu quy hoạch, phần lớn dựa vào việc tận dụng đồng cỏ tự nhiên, phụ phế phẩm trồng trọt, chưa mạnh dạn đầu tư các yếu tố cần thiết để nâng cao năng suất, chất lượng. Trên địa bàn chưa hình thành được nghề chăn nuôi bò thịt, phần lớn trâu bò đưa vào giết thịt là những trâu bò già, gầy, loại thải nên tỷ lệ thịt xẻ thấp, chất lượng thịt kém không thể tiêu thụ được ở thị trường khác vì vậy mà sức cạnh tranh thấp.

2. Đối với chăn nuôi lợn:

Trong những năm vừa qua hệ thống giống lợn đã được cải tiến một bước về chất lượng; nhiều tiến bộ kĩ thuật đã được áp dụng, tư duy của người chăn nuôi có nhiều thay đổi, quy mô và công nghệ trong chăn nuôi lợn đã có nhiều chuyển biến theo hướng tích cực, chăn nuôi chuyển dịch theo hướng giảm dần các hộ chăn nuôi nhỏ lẽ; đồng thời phát triển các trang trại, gia trại quy mô theo hướng nuôi công nghiệp, bán công nghiệp ngày càng tăng, cơ cấu giống được thay đổi rõ nét, từ nuôi các giống địa phương thời gian dài, năng suất thấp như lợn Móng Cái, lợn Ỉ… chuyển sang nuôi các giống lợn lai, lợn ngoại (Landrace; Yorkshirre; Durox; Pedu; Maxter; Lợn lai) có năng suất cao, thời gian nuôi ngắn, nhờ đó chất lượng và năng suất thịt xẻ, sản lượng thịt hơi xuất chuồng ngày càng tăng. Đã hình thành một số trang trại chăn nuôi lợn với quy mô lớn: Điểm hình là 7 trang trại chăn nuôi lợn theo mô hình liên kết với Công ty cổ phần Mitraco Hà tĩnh với quy mô 300 con/lứa lợn thịt. Trang trại anh Chiến tại xã Cẩm Quang với quy mô 100 nái ngoại và 400 lợn thịt. Tuy nhiên, tổng đàn lợn đang có chiều hướng giảm nhẹ, năm 2011 đạt 67.908 con, giảm 2.714 con so với năm 2010, giảm 3,96%. Số lượng xuất chồng đạt khoảng 135.000 con. Sản lượng thịt lợn xuất chuồng ước đạt 9.000 tấn, giá trị ước đạt 450 tỷ, chiếm gần 30% giá trị của ngành nông nghiệp và gần 75% so với ngành chăn nuôi. Tuy nhiên Chăn nuôi tận dụng, nhỏ lẻ trong nông hộ vẫn chiếm tỷ lệ khá cao, do đó rất khó khăn trong công tác quản lý, phòng trừ dịch bệnh và bảo vệ môi trường sinh thái. Quy mô chăn nuôi trang trại những năm gần đây tăng nhưng số lượng còn hạn chế. Một số địa phương phát triển chăn nuôi lợn nhưng chưa làm tốt công tác xử lý chất thải nên đã gây ảnh hưởng đến môi trường chăn nuôi và môi trường sống.

3. Chăn nuôi gia cầm:

Tổng đàn được duy trì ổn định hàng năm, năm 2007 tổng đàn gia cầm 475.000 con (Gà 310.00 con, vịt 108.000 con) đến năm 2011 có 644.000 con tăng 35,6%, tốc độ tăng bình quân hàng năm 8,19% (trong đó: 418.000 con gà, 220.000 con vịt) một số giống mới như vịt siêu trứng, vịt thịt (Giống vịt Triết Giang, vịt Đại Xuyên TC, Vịt super M, gà Tam Hoàng, gà Lương Phượng, gà cỏ Hà Tây, gà Ai Cập, gà Lôi,…) đã được đưa vào nuôi, năng suất chăn nuôi tăng lên đã xuất hiện hiện nhiều gia trại, trang trại chăn nuôi vịt có quy mô lớn, nuôi tách khỏi khu dân cư cho thu nhập cao như Hộ anh Hướng xã Cẩm Quang; Hộ anh Hùng xã Cẩm Bình... và đã hình thành một tổ hợp tác chăn nuôi Cá – Lúa - Vịt tại thôn Na Kênh xã Cẩm Thành và một hợp tác xã chăn nuôi gà thả vườn tại thôn Phú Hòa xã Cẩm Hòa bước đầu đi vào hoạt động và mạng lại hiệu quả nhất định. Đây là tiền đề mở ra hướng đi mới cho chăn nuôi những năm tiếp theo. 

Bên cạnh đó chăn nuôi gia cầm một số hộ chủ yếu còn ở dạng nhỏ lẻ, nuôi chung với các loại vật nuôi khác, theo hình thức chăn nuôi tận dụng (gà, ngan, ...) chưa có quy hoạch vùng riêng.        

Chăn nuôi gia cầm chủ yếu vẫn là phương thức quảng canh, các gia trại, trang trại lớn chưa nhiều vì vậy gặp nhiều khó khăn trong công tác phòng chống dịch và luôn tiềm ẩn nguy cơ xuất hiện dịch bệnh, ảnh hưởng lớn đến sản xuất, đời sống và sức khoẻ cộng đồng.

4. Chăn nuôi khác:

- Đàn hươu: Nhờ có chính sách du nhập các giống cây, giống con mới vào sản xuất từ một mô hình 6 con năm 2008 tăng lên 7 mô hình, với tổng đàn hươu là 21 con (năm 2011), điển hình có hộ anh Vị tại thôn 2 xã Cẩm Duệ quy mô nuôi 7 con. Dù mới du nhập vào địa bàn huyện ta nhưng đây là một vật nuôi bước đầu đã mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực và ngày càng được nhân rộng.

- Đàn nhím: Du nhập vào địa bàn huyện từ năm 2009, đến nay tổng đàn nhím khoảng 98 con trên 12 hộ nuôi. Điển hình là hộ anh Chinh ở thị trấn Thiên Cẩm và hộ anh Mại ở Cẩm Thành với quy mô 13 con, đây cũng là loài vật nuôi thích nghi tốt với điều kiện tự nhiên, có giá trị kinh tế cao và ngày càng phát triển cả về quy mô cũng như số lượng. 

5. Các mô hình trang trại, gia trại:

Toàn huyện có 41 trang trại, gia trại có quy mô tương đối lớn, chủ yếu là chăn nuôi lợn và trang trại, gia trại tổng hợp. Số trang trại, gia trại chăn nuôi lợn có tổng đàn từ 50 con trở lên. Trong đó có 28 trang trại, gia trại có tổng đàn từ 50 - 100 con. Trang trại, gia trại có tổng đàn từ 100 - 300 con là 11 trang trại, trang trại có tổng đàn từ 300 con trở lên có 2 trang trại. Hầu hết các trang trại đã tập trung thâm canh, áp dụng công nghệ và các tiến bộ khoa học kỹ thuật sản xuất nên đã tăng được hiệu quả kinh tế, tạo việc làm cho nhiều lao động, thúc đẩy sự phát triển chăn nuôi trên địa bàn theo hướng trang trại gắn với an toàn dịch bệnh, bảo vệ môi trường.

Tuy nhiên nằm trong khó khăn chung của sản xuất nông nghiệp, hiện nay các trang trại cũng gặp rất nhiều khó khăn, đa phần các trang trại, gia trại hoạt động có hiệu quả, còn có một số ít hoạt động chưa hiệu quả, cầm chừng.

 

Bảng 1. Diễn biến tổng đàn gia súc, gia cầm từ 2005 – 2010

TT

Tổng đàn

ĐVT

Năm 2007

Năm 2008

Năm

2009

Năm 2010

Năm

2011

Tốc độ tăng bình quân hàng năm (%)

1

Trâu, bò

Con

34.804

27.043

27.080

22.793

19.730

- 12,85

 

Trâu

Con

14.497

12.790

12.230

10.207

8.423

- 12,54

 

Con

20.306

14.253

14.850

12.586

11.307

- 12.76

2

Đàn lợn

Con

74.575

59.645

72.474

68.521

65.807

- 1.98

3

Đàn gia cầm

Con

475.500

559.500

625.000

598.000

644.000

8,19

4

Đàn hươu

Con

0

6

14

19

21

 

 

* Mặc dầu tổng đàn các loại vật nuôi giảm hoặc tăng nhẹ, nhưng sản lượng các loại thịt hơi xuất chuồng không ngừng tăng, nguyên nhân do áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong chăn nuôi, do đó rút ngắn được thời gian nuôi, tăng hệ số quay vòng chăn nuôi, tăng số đầu con xuất chuồng trong năm, tăng trọng lượng xuất chuồng.

6. Công tác giống.

- Giống bò: Thực hiện mục tiêu Zêbu hoá đàn bò theo chương trình 252 của UBND tỉnh, hàng năm trên địa bàn huyện đã phối giống tạo được khoảng 500 con bê lai bằng hai phương pháp thụ tinh nhân tạo và nhảy trực tiếp (trong đó thụ tinh nhân tạo đạt 400 con/năm), một số năm lại đây để nâng cao số lượng bê sinh ra bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo, hàng năm UBND huyện phối hợp với Trung tâm Giống chăn nuôi tỉnh đào tạo từ 1 - 2 dẫn tinh viên phục vụ công tác phối giống trên địa bàn.

  - Giống lợn: Hiện nay có 1 trại lợn nái ngoại cấp bố mẹ để sản xuất lợn giống qui mô 100 nái (năm 2010), hàng năm cung ứng được khoảng 3000 lợn thương phẩm trên địa bàn; Còn lại hầu hết được người dân nuôi với qui mô nhỏ. Số lượng đàn lợn nái 15.136 con chiếm 23% tổng đàn lợn, hàng năm cung ứng lợn giống được 65% nhu cầu giống của người chăn nuôi. Do vậy, hàng năm người chăn nuôi lợn phải nhập hàng ngàn con lợn giống thương phẩm từ các địa phương khác về nuôi nên nguy cơ xuất hiện các loại dịch bệnh là rất lớn.

- Giống gia cầm: Hiện nay, giống gia cầm vẫn chưa có sự quản lý của nhà nước, toàn huyện chưa có cơ sở nuôi giữ giống gia cầm cấp ”Ông bà” và “Bố mẹ” cho người chăn nuôi, chủ yếu người dân vẫn phải tự túc con giống.

7. Công tác Thú y.

Công tác phòng, chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm thời gian qua được các cấp, các ngành từ huyện đến xã đặc biệt quan tâm, nhờ làm tốt công tác thông tin tuyên truyền nên đại đa số người dân đã cơ bản nhận thức tốt về công tác thú y, công tác phòng chống dịch bệnh. Thực tế trong những năm qua các loại dịch bệnh nguy hiểm như: LMLM gia súc, tai xanh ở lợn, Cúm gia cầm đã xuất hiện nhưng cơ bản được khống chế không để lây lan ra diện rộng. Mạng lưới thú y từ huyện đến cơ sở hoạt động đồng bộ, công tác tiêm phòng tiến hành thường xuyên và được người chăn nuôi hưởng ứng tích cực.

Trong những năm qua công tác tiêm phòng đã được các cấp chính quyền đặc biệt quan tâm, từ năm 2010 đến nay nhờ áp dụng biện pháp tiêm phòng theo hình thức cuốn chiếu nên tỷ lệ và chất lượng tiêm phòng được nâng lên rõ rệt. Tuy nhiên  đã nhận thức tốt công tác tiêm phòng nhưng do một số yếu tố chủ quan, khách quan tác động như tình hình thời tiết khắc nhiệt, nguồn cung vắc xin từ trung ương còn thiếu, người chăn nuôi chưa quan tâm đến chăn nuôi an toàn sinh học, công tác vệ sinh thú y, tiêm phòng nên làm cho dịch bệnh vẫn xảy ra trên đàn gia súc, gia cầm, ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất chăn nuôi, tỉ lệ tiêm phòng hàng năm đạt khoảng 85% đối với đàn trâu, bò; 75% đối với đàn gia cầm; 60% đối với đàn chó và 70% đối với đàn lợn.

Công tác kiểm dịch, kiểm soát giết mổ đã triển khai có hiệu quả, phần lớn sản phẩm chăn nuôi đưa ra thị trường được cơ quan thú y kiểm tra chặt chẽ. Toàn huyện có 15 kiểm dịch viên định kỳ tham gia kiểm tra công tác kiểm soát giết mổ tại các chợ trên địa bàn. Hiện nay có 1 điểm giết mổ lợn và trâu, bò  tập trung, còn lại hầu hết được giết mổ tại các hộ gia đình.

8. Cung ứng và sản xuất thức ăn chăn nuôi.

- Toàn huyện có 43 hộ kinh doanh thức ăn gia súc, gia cầm hàng năm cung ứng khoảng 3.320 tấn thức ăn công nghiệp. Nguồn thức ăn chủ yếu nhập từ các nhà máy sản xuất thức ăn gia súc trong và ngoài tỉnh về cung ứng trên địa bàn, thức ăn công nghiệp cơ bản được sử dụng khoảng 40% trong chăn nuôi, ngoài ra người dân đã tận dụng các phụ phẩm để phối trộn làm thức ăn cho vật nuôi (ngô, cám gạo, gạo, bã rượu…) qua đó giảm chi phí giá thành thức ăn, tăng hiệu quả kinh tế.

- Về nguồn thức ăn xanh cho trâu, bò: Chủ yếu là tận dụng đồng cỏ tự nhiên và các phụ phế phẩm nông nghiệp như: rơm rạ, ngô, dây lạc… hiện nay diện tích trồng cỏ còn lại khoảng 5 ha, với diện tích này chưa đáp ứng được nhu cầu nguồn thức ăn của đàn trâu, bò. Vì vậy, để phát triển chăn nuôi đại gia súc một cách chủ động, bền vững và theo hướng thâm canh thì ngoài việc quy hoạch đàn, áp dụng các tiến bộ kĩ thuật thì cần chú trọng quy hoạch đồng cỏ và sử dụng các nguồn phụ phẩm nông nghiệp một cách hợp lý.      

9. Hệ thống chế biến, tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi

- Hệ thống dịch vụ, chế biến và tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi trên địa bàn còn thủ công, phân tán, vệ sinh an toàn thực phẩm chưa đảm bảo yêu cầu. Thị trường sản phẩm chăn nuôi chỉ thực hiện trên các hình thức sơ chế: thịt tươi sống, thịt quay, trứng, ... vì vậy an toàn vệ sinh thú y từ sản phẩm chăn nuôi cần phải chú trọng đầu tư và quản lý mạnh hơn.

- Về thị trường tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi chủ yếu vẫn là thị trường trong tỉnh, một số trang trại đã vươn ra thị trường ngoài tỉnh, sản phẩm chủ yếu là lợn thịt, ngoài ra thông qua thương lái thu gom đưa đi tiêu thụ ở một số nơi khác nhưng số lượng chưa được nhiều và thường không ổn định. Tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi chủ yếu theo 2 phương thức: Tự bao tiêu sản phẩm; tiêu thụ sản phẩm thông qua thương lái. Cả hai phương thức tiêu thụ này đều gặp phải nhiều hạn chế như: thiếu vốn đầu tư, tiêu thụ sản phẩm nhiều lúc gặp khó khăn, thiếu sự hỗ trợ về kỹ thuật và công nghệ, rủi ro cao, nhất là khi dịch bệnh xảy ra hay những thời điểm diễn biến bất lợi về thời tiết, cung vượt quá cầu, chèn ép giá của thương lái đối với người sản xuất.

10. Kết cấu hạ tầng chăn nuôi, xử lý chất thải và môi trường chăn nuôi

- Hệ thống chuồng trại chăn nuôi đã được người dân chú trọng, đa số được xây dựng theo kiểu chuồng kiên cố hoặc bán kiên cố. Tuy nhiên, chuồng trại chăn nuôi hầu hết do người dân xây dựng một cách tự phát, không theo một khuôn mẫu, quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật, qui cách xây dựng, hướng chuồng, diện tích chuồng, công trình xử lý chất thải,... Vì vậy chưa phù hợp với số lượng, mật độ của từng loại gia súc, gia cầm và từng giai đoạn phát triển của vật nuôi, không đảm bảo vệ sinh thú y và môi trường nên ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả chăn nuôi, tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm và môi trường xung quanh khu vực chăn nuôi.

II. Tồn tại và hạn chế.

- Nhìn chung chăn nuôi hiện nay chủ yếu là phát triển tự phát, nhỏ lẻ, tốc độ phát triển chậm, chưa hình thành các vùng chăn nuôi hàng hoá. Tổng đàn gia súc, gia cầm ngày càng giảm, đặc biệt là đàn trâu bò, lợn.

- Hệ thống sản xuất giống vật nuôi của huyện còn ít, cung cấp con giống chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao về con giống của người chăn nuôi, chưa hình thành được vùng giống nhân dân. Hiện nay, nguồn giống các loại vật nuôi cung ứng cho người chăn nuôi chủ yếu do người dân tự liên hệ mua từ các địa phương khác nên khó kiểm soát và nguy cơ bùng phát dịch là rất lớn.

- Trình độ và năng lực trong chăn nuôi nói chung của người dân còn thấp, chăn nuôi hàng hoá tập trung chưa phát triển mạnh.

- Công tác thú y vẫn còn nhiều hạn chế: Dịch bệnh vẫn chưa được kiểm soát chặt chẽ. Công tác kiểm soát giết mổ, chế biến các sản phẩm chăn nuôi còn phân tán, hầu hết còn mang tính thủ công, tiêu thụ chủ yếu dưới dạng tươi sống, chưa đảm bảo vệ sinh thú y và vệ sinh an toàn thực phẩm.

- Xúc tiến thị trường tiêu thụ các sản phẩm chăn nuôi chưa được chú trọng, đầu ra các sản phẩm chăn nuôi biến động thường xuyên ảnh hưởng đến tốc độ phát triển chăn nuôi, người dân chưa yên tâm đầu tư phát triển chăn nuôi.

III. Nguyên nhân:

1. Nguyên nhân khách quan:

- Mùa đông thời tiết khí hậu khắc nghiệt, rét đậm, rét hại, độ ẩm không khí cao; mùa Hè nắng nóng gay gắt, mặt khác mưa bão, lũ lụt có chiều hướng gia tăng ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ đàn vật nuôi, làm giảm nguồn thức ăn xanh, ảnh hưởng đến đầu tư của người dân.

- Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, lạm phát tăng, lãi suất vay ngân hàng cao, đầu tư xây dựng trang trại chăn nuôi cần vốn lớn.

- Chăn nuôi rủi ro cao, các loại dịch bệnh xuất hiện ngày càng nhiều: dịch Tai xanh, dịch LMLM, dịch cúm gia cầm…

- Đất nông nghiệp và lực lượng lao động nông nghiệp ngày càng giảm, thay vào đó ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ ngày càng tăng.

2. Nguyên nhân chủ quan:

- Giá thức ăn, con giống, thuốc thú y cao, giá sản phẩm bán ra thấp, chăn nuôi hàng hóa chưa phát triển, chưa kích thích người chăn nuôi đầu tư phát triển.

- Nguồn con giống khan hiếm, chăn nuôi nhỏ lẽ, kết cấu hạ tầng chăn nuôi kém, chưa hình thành được các vùng chăn nuôi tập trung gắn với an toàn dịch bệnh.

- Tỷ lệ tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm hàng năm vẫn còn thấp, người chăn nuôi chưa quan tâm đến chăn nuôi an toàn sinh học, công tác vệ sinh thú y nên dịch bệnh vẫn xảy ra trên đàn gia súc, gia cầm, ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất chăn nuôi.

- Trình độ và năng lực trong chăn nuôi của người dân còn thấp, cán bộ làm công tác chăn nuôi - thú y cơ sở còn thiếu và yếu.

- Công tác chuyển giao tiến bộ khoa học kĩ thuật chăn nuôi còn hạn chế; nhiều chương trình còn dừng lại ở mô hình trình diễn, không có khả năng nhân ra diện rộng. Khả năng tiếp cận tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất theo hướng công nghiệp của nông dân còn ít.

- Nguồn lực đầu tư cho các chương trình, dự án, kinh phí nhà nước và các chính sách khuyến khích đầu tư, tuyên truyền, quảng bá cho phát triển chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi chất lượng cao như: lợn nạc, bò lai zê bu, ... còn ít, chưa khuyến khích người dân phát triển chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi theo hướng trang trại, tập trung công nghiệp.

- Một số trang trại chưa hoàn chỉnh các thủ tục như thuê đất, quy hoạch mặt bằng, để đảm bảo quyền lợi tạo yên tâm cho các chủ trang trại gắn bó đầu tư, phát triển.

IV. Một số bài học kinh nghiệm

- Cần tập trung phát triển chăn nuôi theo hướng trang trại tập trung gắn với an toàn dịch bệnh, phát huy lợi thế, tiềm năng của huyện về đất đai, lao động, tài nguyên,... việc phát triển chăn nuôi đã đưa lại hiệu quả kinh tế thiết thực, giải quyết được việc làm, tăng thu nhập cho người dân và tận dụng được nhiều loại lao động trong dân ... do đó địa phương nào Cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể và nhân dân lao động nhận thức rõ và tập trung đầu tư vào phát triển chăn nuôi thì ở đó kinh tế phát triển và đời sống nhân dân khá hơn.

- Biết phát huy lợi thế của từng địa phương, từng vùng để bố trí vật nuôi phù hợp, gắn sản phẩm chăn nuôi với thị trường tiêu thụ sản phẩm, với sản phẩm trồng trọt, với lợi ích kinh tế thiết thực của người dân ... sẽ tạo động lực thúc đẩy chăn nuôi phát triển nhanh, mạnh, sâu rộng trong quần chúng nhân dân.

- Chú trọng chất lượng giống và các tiến bộ kỹ thuật về giống, đặc biệt là các loại giống đã được nuôi khảo nghiệm, có giá trị kinh tế cao, ít bị nhiễm bệnh; đồng thời quan tâm công tác sản xuất, cung ứng thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y, đây là các yếu tố quyết định đến chất lượng đàn, hiệu quả kinh tế và tăng sức cạnh tranh của sản phẩm chăn nuôi trên thị trường.

- Tăng cường công tác tiêm phòng, phòng chống dịch, đặc biệt công tác kiểm dịch vận chuyển để hộ chăn nuôi yên tâm sản xuất. Tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển chăn nuôi, sản xuất giống, xây dựng cơ sở chế biến, tiêu thụ sản phẩm trên địa bàn.

 

 

Phần 3.

MỤC TIÊU PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH CHĂN NUÔI GIAI ĐOẠN 2012-2015 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020

 

I. Quan điểm phát triển

- Tập trung phát triển tổng đàn về số lượng và chất lượng đàn gia súc, gia cầm một cách bền vững, hình thành vùng chăn nuôi hàng hoá tập trung tách khỏi khu vực dân cư, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và bảo vệ môi trường sinh thái; sản phẩm chủ yếu là sản phẩm hàng hoá, sản phẩm an toàn vệ sinh thực phẩm, đáp ứng nhu cầu cơ bản về thực phẩm cho tiêu dùng.

- Tổ chức lại sản xuất ngành chăn nuôi theo hướng gắn sản xuất với thị trường, bảo đảm an toàn dịch bệnh, bảo vệ môi trường và cải thiện điều kiện an sinh xã hội, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và vệ sinh an toàn thực phẩm.

- Tập trung phát triển chăn nuôi phù hợp điều kiện đặc thù riêng của huyện, sản phẩm có lợi thế và khả năng cạnh tranh.

- Khuyến khích các tổ chức và cá nhân đầu tư phát triển chăn nuôi theo hướng liên kết với Công ty cổ phần chăn nuôi Mitraco, Công ty Hoàng Long, Công ty CP,… nuôi lợn nái và lợn thịt siêu nạc theo hướng gia công; đồng thời hỗ trợ, tạo điều kiện hộ chăn nuôi theo phương thức truyền thống chuyển dần sang phương thức chăn nuôi trang trại, công nghiệp.

II. Mục tiêu.

2.1. Mục tiêu chung.

Phát triển chăn nuôi theo hướng gia trại, trang trại công nghiệp, vùng chăn nuôi tập trung, sản xuất hàng hóa; áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, quy trình chăn nuôi, thú y đảm bảo an toàn dịch bệnh, bảo vệ môi trường; Đưa tỷ trọng ngành chăn nuôi trong cơ cấu ngành nông nghiệp đạt trên 50% năm 2015 và đạt trên 55% năm 2020. Đảm bảo an toàn dịch bệnh và vệ sinh an toàn thực phẩm, khống chế hiệu quả các bệnh nguy hiểm trong chăn nuôi. Các cơ sở chăn nuôi, nhất là cơ sở chăn nuôi theo phương thức trang trại và các cơ sở giết mổ, chế biến gia súc, gia cầm phải có hệ thống xử lý chất thải bảo vệ và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

2.2. Mục tiêu cụ thể:

a) Tăng trưởng giá trị bình quân giai đoạn 2012 - 2015: 7 - 8%/năm; giai đoạn 2015 - 2020: 6 - 7%/năm.

b) Tổng đàn và sản phẩm chăn nuôi:

- Năm 2015: Tổng đàn trâu 10.000 con, bò 15.000 con, lợn 94.000 con, gia cầm 800 ngàn con. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 15.000 tấn, trong đó thịt lợn chiếm 75%, thịt gia cầm chiếm 10%, thịt trâu bò, dê chiếm 15%. Sản lượng trứng gia cầm 50 triệu quả.

- Năm 2020: Tổng đàn trâu 12.000 con, bò 20.000 con, lợn 105.000 con, gia cầm 1 triệu con. Sản lượng thịt hơi đạt 20.000 tấn, trong đó: thịt lợn chiếm 70%, thịt gia cầm chiếm 15%, thịt trâu bò, dê chiếm 15%. Sản lượng trứng gia cầm 70 triệu quả.

c) Chất lượng đàn: Zêbu hóa đàn bò đạt 30% trong tổng đàn năm 2015 và 50% năm 2020; lợn nái ngoại đạt 15% trong tổng đàn nái năm 2015 và trên 30% năm 2020.

d) Chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi, tăng tỷ trọng chăn nuôi trang trại, công nghiệp từ 10% (hiện nay) lên 20% năm 2015 và 30% năm 2020.

đ) Kiểm soát vệ sinh môi trường chăn nuôi, khống chế cơ bản các loại bệnh truyền nhiễm nguy hiểm: LMLM gia súc, Tai xanh và Dịch tả ở lợn, Cúm gia cầm.

e) Giết mổ, chế biến, kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm: Đến năm 2015 có 30% số gia súc, gia cầm được giết mổ tại các cơ sở giết mổ tập trung, 70% còn lại giết mổ tại các điểm giết mổ; 100% thịt gia súc, gia cầm tiêu thụ trên địa bàn được kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y.

III. Nội dung.

1. Chăn nuôi lợn:

Tổng đàn (số lượng có mặt thường xuyên) năm 2015 là 94.000 con và năm 2020: 105.000 con. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 11.500 tấn năm 2015 và 15.000 tấn năm 2020. Duy trì ổn định tỷ lệ đàn nái trong tổng đàn trên 20% (hiện nay); trong đó tỷ lệ nái ngoại đạt 15% năm 2015 và trên 30% năm 2020. Phấn đấu đến năm 2015 có 2.000 nái ngoại cấp bố mẹ và năm 2020 có 4.500 nái cấp bố mẹ.

Phát triển chăn nuôi theo hướng gia trại, trang trại công nghiệp, trong đó tăng tỷ trọng chăn nuôi công nghiệp từ 12% (hiện nay) lên 40% năm 2015 và 60% năm 2020. Tổ chức sản xuất theo hướng liên doanh, liên kết với Công ty Cổ phần chăn nuôi Mitraco và các doanh nghiệp khác; hình thành các Hiệp hội chăn nuôi, Hợp tác xã, Tổ hợp chăn nuôi.

2. Chăn nuôi bò:

Tổng đàn tăng bình quân 3%/năm, năm 2015 đạt 15.000 con và 20.000 con năm 2020. Số lượng bò xuất bán và sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng bình quân 4,4%/năm, đạt 1.500 tấn vào năm 2015 và 2.000 tấn năm 2020; đẩy mạnh chương trình Zêbu hóa đàn bò, phấn đấu tỷ lệ bò lai Zê bu đạt 30% đến năm 2015 và 50% năm 2020.

Phát triển chăn nuôi bò thịt năng suất, chất lượng cao (75% máu ngoại) theo hướng thâm canh, bán thâm canh gắn với việc trồng cỏ, tận thu, bảo quản, chế biến các phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn; chăn nuôi bò theo hướng trang trại, công nghiệp ở các xã có tiềm năng và lợi thế.

3. Chăn nuôi trâu:

Duy trì và phát triển ổn định về số lượng và nâng cao chất lượng đàn; hàng năm bình tuyển, chọn lọc một số trâu đực giống có năng suất, chất lượng cao và luân chuyển giữa các vùng trong huyện; Hạn chế phương thức chăn nuôi quảng canh, thả rông sang chăn dắt có quản lý, nuôi nhốt, phát triển chăn nuôi trang trại thâm canh quy mô nhỏ (10 - 20 con/trang trại) kết hợp trồng cỏ và bảo quản, chế biến phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn.

4. Chăn nuôi gia cầm:

Tổng đàn tăng bình quân 4,5%/năm, đạt 800 ngàn con năm 2015 và 1 triệu con năm 2020. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng 4,7%/năm, đạt 1.500 tấn năm 2015 và 2.000 tấn năm 2020. Sản lượng trứng đạt 50.000 ngàn quả năm 2015 và 70.000 ngàn quả năm 2020.

Xây dựng các cơ sở sản xuất giống gia cầm thương phẩm đảm bảo an toàn dịch bệnh, cung cấp đủ con giống cho người chăn nuôi. Du nhập các giống gia cầm năng suất cao để phục vụ cho chăn nuôi trang trại tập trung, công nghiệp; đồng thời chọn lọc các giống gia cầm địa phương chất lượng cao gắn với xây dựng thương hiệu sản phẩm. Chuyển đổi phương thức chăn nuôi gia cầm theo hướng tập trung, trang trại, chăn thả có kiểm soát và đảm bảo an toàn dịch bệnh. Phát triển chăn nuôi gà thả đồi kết hợp trồng cây ăn quả, cây lâm nghiệp tạo thương hiệu gà đồi ở xã Cẩm Mỹ.

5. Phát triển chăn nuôi hươu, dê, ong:

- Đàn hươu: Phấn đấu đạt 100 con năm 2015; năm 2020 đạt 300 con. Phát triển đàn hươu ở các vùng miền núi có điều kiện tự nhiên thích hợp như ở Cẩm Mỹ, Cẩm Duệ, Cẩm Quan, Cẩm Minh, Cẩm Sơn. Hình thành vùng chăn nuôi hươu theo hướng hàng hóa.

- Đàn dê: Phát triển chăn nuôi dê ở các vùng miền núi Cẩm Lĩnh, Thị trấn Thiên Cầm, Cẩm Mỹ, Cẩm Minh. Du nhập một số giống dê thịt phù hợp với điều kiện sinh thái của địa phương như dê Bách Thảo, dê Ấn Độ…

- Đàn ong: 1.000 tổ, sản lượng mật 1 tấn. Phát triển chăn nuôi ong tập trung, phát triển thương hiệu sản phẩm mật ong.

 

VI. Giải pháp phát triển trong thời gian tới:

1. Quy hoạch

Quy hoạch: Căn cứ kỹ điều kiện đất đai, khí hậu để quy hoạch gắn với xây dựng chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, đã được phê duyệt. Các xã dựa trên quy hoạch tạo điều kiện về đất đai, giao thông và cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào để khuyến khích người chăn nuôi cũng như các doanh nghiệp có nhu cầu đầu tư vào lĩnh vực chăn nuôi theo hướng tập trung hàng hóa đầu tư vào các vùng đã được quy hoạch tại 23 xã trên địa bàn toàn huyện. Bố trí các vật nuôi có lợi thế từng vùng sinh thái, nhằm khai thác tối đa tiềm năng của từng loại vật nuôi, đảm bảo phát triển bền vững, an toàn sinh học và bảo vệ môi trường tiến tới hình thành các vùng, cụm trang trại tập trung.

a) Quy hoạch vùng chăn nuôi tập trung.

* Vùng bán sơn địa: Đây là vùng có tiềm năng xây dựng vùng chăn nuôi tập trung quy mô lớn (đất đai rộng, nguồn nước, xa khu dân cư, trường học, bệnh viện…) Xây dựng trang trại chăn nuôi hình thức công nghiệp: tập trung phát triển đàn lợn, trâu, bò, gà thịt chăn thả, chăn nuôi hươu, nuôi ong lấy mật, ngoài ra có thể phát triển chăn nuôi bò sữa. Quy hoạch vùng trồng cỏ, mở rộng diện tích đồng cỏ để chăn thả. Đồng thời phát triển nuôi gà đồi, nuôi thuỷ cầm gắn với hình thức tận dụng diện tích mặt nước hồ đập. Gồm các xã: Cẩm Mỹ; Cẩm Quan; Cẩm Hưng; Cẩm Sơn; Cẩm Thịnh; Cẩm Lạc; Cẩm Minh;

* Vùng đồng bằng: Tập trung phát triển bò lai Zê bu gắn đảm bảo cày kéo, phân bón những nơi có điều kiện thâm canh cao có thể phát triển hành thức nuôi nhốt trâu bò. Nuôi lợn thịt hướng nạc, phát triển các mô hình trang trại kinh tế tổng hợp đa cây đa con quy mô vừa, mô hình cá –lúa- vịt.

* Vùng cát ven Biển: Khuyến khích nuôi bò sinh sản, vỗ béo. Hình thành các tổ, cụm trang trại nhỏ nuôi nuôi gà thả vườn, thuỷ cầm theo mùa vụ. Gồm các xã Cẩm Hòa, Cẩm Dương, thị trấn Thiên Cầm, Cẩm Lĩnh.

- Các xã cần kiểm tra, rà soát lại quỹ đất, xác định những vùng có thể phát triển trang trại chăn nuôi, chủ yếu các vùng đất trống, đất xa khu vực dân cư, đất hoang hoá chưa sử dụng hoặc đất trồng trọt kém hiệu quả chuyển đổi sang chăn nuôi. Tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng địa phương, bố trí thành cụm, vùng chăn nuôi tập trung tách khỏi khu dân cư, diện tích tối thiểu là 3 ha đối với chăn nuôi lợn; trâu bò 5 ha; gia cầm 1 ha.

- Việc tiến hành giao đất lập trang trại chăn nuôi phải được cơ quan quản lý có thẩm quyền thẩm định điều kiện chăn nuôi. 

b) Quy hoạch vùng sản xuất thức ăn xanh.

- Dành đất bố trí trồng cỏ chất lượng cao (cỏ Voi, cỏ VA06, cỏ Ghine, Paspalum,…) ở các vùng canh tác lúa không chủ động nước và đất sản xuất khác hiệu quả kinh tế thấp sang xây dựng trang trại và trồng cỏ.

c) Quy hoạch lò giết mổ: Quy hoạch, tổ chức lại hệ thống cơ sở giết mổ và chế biến gia súc, gia cầm theo hướng tập trung gắn với từng vùng chăn nuôi hàng hoá, hợp vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm và xử lý môi trường.        

Việc xây dựng cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung do các doanh nghiệp và các thành phần kinh tế khác tham gia, huyện có chính sách ưu tiên về đất đai, thuế và kết cấu hạ tầng.Dự kiến quy hoạch 3 cở sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung tại 3 vùng ở 3 xã đó là: Thị trấn Cẩm Xuyên, Cẩm Bình và Cẩm Lộc.

2. Các giải pháp về kỹ thuật:

a) Công tác giống:

Tập trung đầu tư xây dựng vùng giống nhân dân, trước hết là các giống vật nuôi chủ lực lợn, trâu, bò...; khuyến khích và hỗ trợ đầu tư các cơ sở nhân giống của các tổ chức, cá nhân đảm bảo an toàn dịch bệnh, đạt tiêu chuẩn nhằm chủ động con giống tại chỗ, đảm bảo chất lượng và an toàn dịch bệnh.

Triển khai có hiệu quả chương trình giống vật nuôi và thực hiện tốt việc nuôi giữ, nhân các giống lợi thế của địa phương, đảm bảo khoảng 50% giống trong sản xuất đã qua chọn lọc, đánh giá bình tuyển. Thực hiện tốt một số nội dung cụ thể sau:

- Gi